Trường THCS Quài Canghttps://thcsquaicang.tuangiao.gov.vn/uploads/quoc-huy.png
Thứ ba - 29/03/2022 15:27260
BÀI TRUYỀN THÔNG Phòng, chống dịch COVID-19 trong trường học
PHÒNG GD&ĐT TUẦN GIÁO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS QUÀI CANG
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quài Cang, ngày 12 tháng 10 năm 2021
BÀI TRUYỀN THÔNG Phòng, chống dịch COVID-19 trong trường học
Thực hiện theo văn bản số 914/BYT-MT, ngày 26/02/2020 của Cục Quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế về việc tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong trường học, ký túc xá; Thực hiện theo văn bản số 476/BYT-MT, ngày 01/3/2020 của Cục quản lý môi trường Y tế về việc danh mục những việc cần làm để phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trong trường học; Thực hiện văn bản số 6666/BYT-MT, ngày 16/8/2021 của Bộ Y tế về việc Hướng dẫn phòng, chống dịch COVID-19 tại cơ quan, đơn vị; Căn cứ tình hình thực tế dịch COVID-19 đang diễn ra hiện nay, trường THCS Quài Cang tuyên truyền phòng, chống dịch COVID-19 trong nhà trường như sau: I. Khái niệm về COVID-19 Ngày 31 tháng 12 năm 2019, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được thông báo về các trường hợp viêm phổi không rõ nguyên nhân tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Ngày 7 tháng 01 năm 2020 một loại virus Corona chủng mới được xác định là nguyên nhân gây bệnh. Lúc đó, vi rút tạm thời được đặt tên là phiên bản năm 2019 của virus Corona - nCoV (novel Corona vius). Tên bệnh được tạm thời đặt là bệnh Viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona 2019. Ngày 11 tháng 2 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới công bố chính thức tên bệnh là COVID-19, trong đó “CO” là chữ viết tắt của tên chủng virus CORONA, “VI” là viết tắt cho virus “D” là viết tắt cho bệnh (tiếng Anh là Disease) và 19 là năm 2019, năm phát hiện ra chủng virus mới này. Đây là một chủng chưa từng được xác định ở người trước đây, thuộc họ corona virus (CoV), là một họ virus lớn gây bệnh từ cảm lạnh thông thường đến các bệnh nặng hơn. Người được chẩn đoán mắc COVID-19 là ca bệnh nghi ngờ hoặc bất cứ trường hợp nào đã được khẳng định bằng xét nghiệm dương tính với virus SARSCoV-2 tại các phòng xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép (Theo bộ Tài liệu COVID-19 ban hành cùng Quyết định 3822/QĐ-BGDĐT ngày 23/11/2020 của Bộ GD&ĐT). II. Khái niệm về vaccine COVID-19 - Vaccine COVID-19 là vaccine nhằm cung cấp khả năng miễn dịch thu được chống lại coronavirus với hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS‑CoV‑2), loại vi rút gây ra bệnh coronavirus 2019 (COVID‑19). Trước đại dịch COVID-19, một nhóm kiến thức đã được thiết lập đã tồn tại về cấu trúc và chức năng của coronavirus gây ra các bệnh như hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS) và hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS). Các kiến thức này đã thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ vaccine khác nhau vào đầu năm 2020. Vào ngày 10 tháng 1 năm 2020, dữ liệu trình tự di truyền SARS-CoV-2 được chia sẻ thông qua GISAID, và vào ngày 19 tháng 3 năm 2020, ngành công nghiệp dược phẩm toàn cầu đã công bố một cam kết cơ bản nhằm giải quyết bệnh COVID-19. Vaccine COVID-19 được công nhận rộng rãi vì vai trò của chúng trong việc giảm sự lây lan, mức độ nghiêm trọng và tử vong do COVID-19 gây ra. Trong các thử nghiệm Giai đoạn III, một số vaccine COVID-19 đã chứng minh hiệu quả cao tới 95% trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng COVID-19 có triệu chứng. Tính đến tháng 7 năm 2021, 20 loại vaccine được ít nhất một cơ quan quản lý quốc gia cho phép sử dụng công cộng: + Hai vaccine RNA: Pfizer–BioNTech và Moderna. + Chín vaccine bất hoạt thông thường: BBIBP-CorV, Học viện Khoa học Y tế Trung Quốc, CoronaVac, Covaxin, CoviVac, COVIran Barekat, Minhai-Kangtai, QazVac và WIBP-CorV. + Năm vaccine vectơ virus : SputnikLight, SputnikV, Oxford–AstraZeneca, Convidecia và Janssen. + Bốn vaccine tiểu đơn vị protein Abdala, EpiVacCorona, Soberana 02 và ZF2001. - Tính đến tháng 7 năm 2021, đã có 330 ứng viên vaccine đang trong các giai đoạn phát triển khác nhau, với 102 vaccine đang được nghiên cứu lâm sàng, trong đó có 30 vaccine đang trong giai đoạn I, 30 vaccine trong giai đoạn I-II, 25 vaccine trong Giai đoạn III và 8 vaccine trong giai đoạn IV phát triển. - Tính đến ngày 14 tháng 7 năm 2021, 3,54 tỷ liều vaccine COVID-19 đã được sử dụng trên toàn thế giới dựa trên các báo cáo chính thức từ các cơ quan y tế quốc gia. AstraZeneca dự kiến sản xuất 3 tỷ liều vào năm 2021, Pfizer–BioNTech 1,3 tỷ liều và Sputnik V, Sinopharm, Sinovac và Johnson & Johnson mỗi loại 1 tỷ liều. Moderna đặt mục tiêu sản xuất 600 triệu liều và Convidecia 500 triệu liều vào năm 2021. Đến tháng 12 năm 2020, hơn 10 tỷ liều vaccine đã được các quốc gia đặt hàng trước, với khoảng một nửa số liều được các quốc gia có thu nhập cao, chiếm 14% dân số thế giới, đặt mua (Theo wikipedia). III. Các biện pháp phòng, chống 1. Trước khi đến trường - Thực hiện nghiêm túc Thông điệp 5K; tự theo dõi sức khỏe, đo thân nhiệt hằng ngày. Nếu có một trong các biểu hiện mệt mỏi, sốt, ho, đau rát họng, khó thở... thì chủ động ở nhà, không đi làm/đi công tác, báo cáo Hiệu trưởng biết và xin ý kiến. Đối với học sinh báo cáo giáo viên chủ nhiệm. - Chuẩn bị các đồ dùng cá nhân cần thiết cho thời gian làm việc hoặc đi công tác như: nước uống, cốc hoặc bình uống dùng riêng; khăn giấy, khẩu trang, găng tay, dung dịch sát khuẩn tay,… - Không được đi làm nếu đang trong thời gian cách ly y tế. 2. Khi học tập làm việc tại trường * Đối với CBQL, GV, NV và học sinh: - Luôn thực hiện Thông điệp 5K đặc biệt việc đeo khẩu trang và đảm bảo giữ khoảng cách tại nơi làm việc, hội họp, các khu vực công cộng tại trường thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19. - Tăng cường sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc từ xa để giảm tiếp xúc trực tiếp. - Thường xuyên vệ sinh mặt bàn, ghế làm việc, các dụng cụ làm việc và vị trí thường xuyên tiếp xúc của cá nhân bằng dung dịch sát khuẩn. - Nếu phát hiện bản thân hoặc người cùng làm việc/khách, học sinh có một trong các biểu hiện mệt mỏi, sốt, ho, đau rát họng, khó thở..., hoặc là F0, hoặc F1 hoặc F2 thì bản thân hoặc hướng dẫn người cùng làm việc/khách hạn chế tiếp xúc với những người xung quanh và báo ngay cho Hiệu trưởng, Tổ an toàn COVID của trường hoặc y tế trường học, y tế địa phương. - Không có thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc đối với các trường hợp đã hoàn thành việc cách ly y tế hoặc phải đi công tác đến các khu vực có dịch hoặc đã được điều trị khỏi COVID-19. * Đối với bảo vệ: Ngoài các hướng dẫn chung ở trên, bảo vệ cần lưu ý: - Phải rửa tay thường xuyên và dùng giấy lau tay sử dụng một lần hoặc khăn lau tay để làm khô tay. - Sử dụng đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân (bao gồm cả khẩu trang, kính…) theo quy định. * Đối với CBQL, GV, NV phải đi công tác đến các khu vực có dịch: Ngoài các hướng dẫn ở trên cần lưu ý: - Tham khảo thông tin về các khu vực có dịch trên cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế http://ncov.moh.gov.vn để đánh giá lợi ích và nguy cơ của chuyến công tác. - Thực hiện xét nghiệm SARS-COV-2 trước khi đi công tác và sau khi đi công tác về theo quy định. - Tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch của chính quyền địa phương nơi đến công tác; luôn thực hiện thông điệp 5K. - Trong khi đi công tác, nếu có một trong các biểu hiện mệt mỏi, sốt, ho, đau rát họng, khó thở... cần đeo khẩu trang, tránh tiếp xúc với những người xung quanh, thông báo với người quản lý, gọi điện cho đường dây nóng của Sở Y tế cấp tỉnh hoặc Bộ Y tế (số điện thoại 1900 9095) để được tư vấn và nếu cần thiết thì đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị kịp thời. - Sau khi đi công tác về từ khu vực có dịch về, CBQL, GV, NV thực hiện theo quy định của Bộ Y tế về xét nghiệm SARS-COV-2, tự theo dõi sức khỏe, cách ly y tế... * Làm gì tại nhà khi bị mắc COVID-19 - Bệnh nhân mắc COVID-19 là người có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 bằng Realtime RT-PCR hoặc Test nhanh kháng nguyên; không có triệu chứng lâm sàng hoặc có triệu chứng lâm sàng ở mức độ nhẹ (sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ, tê lưỡi); không có các dấu hiệu của viêm phổi hoặc thiếu oxy, nhịp thở < 20 lần/phút, SpO2 > 96% khi thở khí trời; không có thở bất thường như thở rên, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, thở khò khè, thở rít ở thì hít vào; đã tiêm đủ 2 mũi hoặc 1 mũi vaccine phòng COVID-19 sau 14 ngày; trẻ em trên 1 tuổi, người lớn < 50 tuổi; không có bệnh nền; không mang thai khi tự điều trị tại nhà lưu ý như sau: + Người bệnh nên ở trong một phòng riêng biệt, nếu không đáp ứng được điều này thì họ cần ở một phần của căn nhà và hạn chế di chuyển xung quanh. Ngoài ra, nên giữ khoảng cách với người khác ít nhất 2m và luôn mang khẩu trang. Phòng ở phải thông gió tốt, luôn mở cửa sổ. + Chỉ nên có một người chăm sóc cho bệnh nhân và người chăm sóc đó không được có bệnh lý nền và tốt nhất là những người đã được tiêm vaccine. + Bất cứ lúc nào bệnh nhân và người chăm sóc đều phải đeo khẩu trang. Ngay sau khi người chăm sóc rời khỏi phòng, họ cần đảm bảo phải rửa tay sạch bằng nước với xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay nhanh. + Người bệnh cần có những dụng cụ sinh hoạt riêng như bát đũa, cốc, khắn tắm… riêng. + Bất kỳ bề mặt mà người bệnh thường xuyên tiếp xúc phải được làm sạch và khử trùng hằng ngày. Rác thải của bệnh nhân phải được đóng gói an toàn và bỏ vào nơi thích hợp. + Nghiêm cấm việc người thân đến thăm nom trong thời gian bị bệnh. - Khi phát hiện triệu chứng nặng Khi chăm sóc người bệnh tại nhà, điều quan trọng nhất là phải theo dõi tình trạng bệnh thường xuyên. Tốt nhất, người bệnh nên được thăm khám mỗi ngày một lần và bất cứ lúc nào có triệu chứng bất thường: + Khó thở, đau ngực, cảm giác hụt hơi hoặc thở nhanh hơn bình thường khi ngồi yên. + Khó khăn hoặc không thể làm những việc sinh hoạt bình thường trước đây. + Đi bộ cảm giác chóng mặt, khó thức dậy khỏi giường. + Nhịp thở > 20 chu kỳ/phút, mạch >100 chu kỳ/phút. + SpO2 ≤ 94% nếu có máy đo SpO2 tại nhà. + Đối với người lớn tuổi thì ngoài cảm giác lâng lâng, mệt mỏi, lú lẫn cũng cần phải lưu ý. + Đối với trẻ em, triệu chứng nặng thường sẽ khó phát hiện hơn, chúng ta phải quan sát các đặc điểm như quấy khóc tăng, lừ đừ, bỏ ăn, biểu hiện tím môi, mắt trũng do mất nước điện giải… + Và việc quan trọng là bệnh nhân cần được đánh giá độ bào hòa oxy (SpO2): Điều này thực sự cần thiết để bổ sung thông tin theo dõi hằng ngày, người bệnh nên có một máy đo độ bão hòa oxy cầm tay. + Nên kẹp vào ngón tay ấm và chờ đủ thời gian để các thông số trên máy ổn định. + Máy thường sẽ hiện chỉ số mạch và SpO2, thông thường màu chỉ số SpO2 là màu xanh. + Đồi với bất kỳ bệnh nhân có độ bão hòa oxy ≤ 94% cần phải liên hệ với cơ quan y tế ngay. + Đối với bệnh nhân SpO2 > 94% tiếp tục đánh giá theo dõi. + Người bệnh nên kẹp theo dõi SpO2 3 lần/ngày hoặc theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Lưu ý: SpO2 không phải là chỉ số duy nhất để đánh giá mức độ nặng của bệnh. Vì thế, nên có 1 bác sĩ thăm khám cho mình hằng ngày trực tiếp hay gián tiếp qua gọi video là tốt nhất. - Chế độ ăn uống nghỉ ngơi Người bệnh nên có một chế độ ăn giàu dinh dưỡng, thêm hoa quả và rau xanh, uống đủ nước, bổ sung nước điện giải trong trường hợp có nôn hay tiêu chảy. Cần tránh đọc những tin tức nhiều, đặc biệt là về dịch bệnh, tránh stress, nghe nhạc, tạo tinh thần thư thái và ngủ đủ giấc. Không nên nằm nhiều tại giường, có thể đi lại trong phòng, nằm đầu cao, nằm nghiêng. - Những thuốc thường ngày nên có trong tủ thuốc của gia đình: + Thuốc hạ sốt, giảm đau: Thuốc có thành phần là Paracetamol như Panadol, Efferalgan… chỉ dùng khi sốt cao, hoặc đau nhiều, liều lượng 10-15mg/kg/lần, mỗi lần dùng cách nhau ít nhất 4 giờ, trẻ con không quá 60mg/kg/ngày. Quá liều thuốc gây hại cho gan. + Các thuốc khác như thuốc dị ứng (các thuốc kháng histamine), thuốc giảm ho, oresol, nước muối sinh lý (Nacl 0.9%). + Những người bệnh có bệnh mạn tính như tiểu đường, tăng huyết áp, viêm gan virus, hen suyễn… cần tiếp tục duy trì thuốc điều trị hằng ngày. + Nên trang bị cho gia đình: Cặp nhiệt độ, máy đo huyết áp (nếu gia đình có người già, người bị bệnh lý tim mạch, tăng huyết áp), máy đo đường máu (nếu người nhà có người mắc bệnh tiểu đường). Ngoài dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, đau nhiều theo hướng dẫn, không nên dùng bất cứ thuốc hay thực phẩm chức năng khi không có chỉ định của bác sĩ. Cũng không làm theo bất cứ những gì trên mạng về cách điều trị virus tránh gây hại cho bản thân (Theo báo Khoa học và đời sống số ra ngày 12/10/2021). Giữ liên hệ với bác sĩ. Gọi điện trước khi đến khám bệnh. Phải tìm sự chăm sóc y tế nếu bị khó thở, hoặc có các dấu hiệu cảnh báo cấp cứu, hoặc nếu bản thân nghĩ đó là một trường hợp cần cấp cứu.Tránh dùng giao thông công cộng, đi chung xe hoặc taxi. Hiện nay, virus gây bệnh COVID-19 thường xuyên thay đổi thông qua đột biến. Những đột biến này ngày càng tăng thêm và tạo ra các phiên bản virus hơi khác so với virus chủng gốc, được gọi là “các biến thể”. Đôi khi, các biến thể mới xuất hiện và sau đó biến mất. Cũng có khi, các biến thể mới không biến mất. Chúng được gọi là “các biến thể đáng lo ngại” nếu như có bằng chứng là dễ lây lan hơn, gây bệnh nghiêm trọng hơn và khó được phát hiện, điều trị hoặc phòng ngừa bằng vaccine hơn. Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu và theo dõi những biến thể này trong khi chúng tiến hóa, càng về các biến thể sau thì chúng càng nguy hiểm, khó khống chế, nhất là biến thể Delta. Các biến thể virus gây bệnh COVID-19 hiện nay:
Tên biến thể:
Lần đầu được phát hiện ở:
Ngày, tháng, năm phát hiện:
Alpha (B.1.1.7)
Vương quốc Anh
Tháng 10 năm 2020
Beta (B.1.351)
Vịnh Nelson Mandela, Nam Phi
Tháng 12 năm 2020
Gamma (P.1)
Brazil
Tháng 11 năm 2020
Biến thể Delta (Dòng B.1.617.2)
Ấn Độ
Tháng 12 năm 2020
Những biến thể mới này có nguy hiểm hơn virus chủng gốc không? Điều này phụ thuộc vào từng biến thể. Một vài dạng trong số những biến thể này là mối đe dọa nghiêm trọng, đặc biệt là đối với những người chưa được tiêm phòng đầy đủ và những người này có nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 cao hơn. Biến thể Delta rất đáng lo ngại vì nó dễ lây lan hơn nhiều so với virus chủng gốc và các biến thể khác. Nó cũng có thể gây bệnh nặng hơn ở những người chưa được tiêm phòng đầy đủ. Lây nhiễm đột phá là gì? Các loại vaccine COVID-19 làm giảm nguy cơ nhiễm COVID-19 nhưng vì vaccine không có hiệu quả 100% nên một số phần trăm nhỏ những người đã được tiêm phòng đầy đủ sẽ bị nhiễm bệnh. Đây được gọi là “lây nhiễm đột phá”. Lây nhiễm đột phá thường gây ra bệnh nhẹ. Nếu đã được tiêm phòng đầy đủ, nguy cơ bị nhiễm bệnh, phát bệnh, nhập viện hoặc tử vong sẽ thấp hơn nhiều so với chưa được tiêm phòng đầy đủ. Một số người đã được tiêm phòng đầy đủ và bị nhiễm biến thể Delta có thể lây virus cho người khác. Điều này được ghi nhận chỉ là một phần nhỏ trong sự lây truyền của virus. Để tự bảo vệ bản thân chống lại các biến thể của virus chúng ta cần phải tiêm phòng vaccine COVID-19 và nghiêm túc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch do Bộ Y tế quy định. Tiêm phòng vaccine COVID-19 sẽ làm chậm sự lây lan của các biến thể và giảm khả năng xuất hiện các biến thể mới mà thậm chí còn nguy hiểm hơn nữa. Vì vậy mỗi chúng ta cần nghiêm túc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định của Bộ Y tế và tiêm phòng vaccine COVID-19 đầy đủ khi có kế hoạch tiêm chủng của chính quyền địa phương theo lời kêu gọi của Thủ Tướng Phạm Minh Chính “Vaccine tốt nhất là vaccine được tiêm sớm nhất”. Một số hình ảnh về hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 tại nhà trường: